HSK 5 · 3.0Phó từTuần 27
Đối lập 才 và 就
才/就
Công thức
số lượng/thời gian + 才/就 + V
📖 Lý thuyết
Cấu trúc: Số lượng hoặc thời gian + 才/就 + Động từ. Cách dùng:
- 才 diễn tả hành động xảy ra muộn, chậm hơn so với dự kiến hoặc mốc thời gian được nhắc đến. Cảm giác của người nói là “mãi mới”, “đến tận… mới”.
- 就 diễn tả hành động xảy ra sớm, nhanh hơn dự kiến. Cảm giác là “chỉ có… đã”, “mới… đã”.
Vị trí: Cả 才 và 就 đều đứng trước động từ chính, sau cụm từ chỉ thời gian hoặc số lượng. Ví dụ: 他八点才来 (Anh ấy 8 giờ mới đến). 他八点就来了 (Anh ấy 8 giờ đã đến rồi). Lưu ý cho học sinh Việt:
- Người Việt hay nhầm lẫn vì tiếng Việt dùng “mới” và “đã” nhưng thứ tự có thể khác. Cần nhớ: 才 = “mới”, 就 = “đã” trong ngữ cảnh này.
- 才 thường đi với cảm giác than phiền, chê muộn; 就 thường đi với cảm giác khen, ngạc nhiên vì sớm.
- Không dùng 才 hoặc 就 với câu phủ định có 不/没. Sai: 他三天没才来. Đúng: 他三天才来.
- Khi số lượng nhỏ + 就 → diễn tả “ít mà đủ”, “chỉ cần… là”. Khi số lượng lớn + 才 → “nhiều mà vẫn chưa đủ”.
So sánh với cấu trúc gần nghĩa: Khác với 刚 (vừa mới), 才 nhấn mạnh sự muộn, còn 刚 chỉ thời gian trôi qua rất gần. Ví dụ: 我刚到 (Tôi vừa đến) – không nói về độ muộn sớm. 才/就 luôn cần mốc thời gian hoặc số lượng đứng trước.
💬 Ví dụ mẫu
他十点才起床。
Tā shí diǎn cái qǐchuáng.
Anh ấy 10 giờ mới dậy.
Dậy muộn hơn bình thường.
她五岁就学钢琴了。
Tā wǔ suì jiù xué gāngqín le.
Cô ấy 5 tuổi đã học piano.
Học sớm hơn dự kiến.
我们等了三个小时才见到他。
Wǒmen děng le sān gè xiǎoshí cái jiàndào tā.
Chúng tôi đợi 3 tiếng mới gặp được anh ấy.
Đợi lâu mới gặp.
他一个月就学会了开车。
Tā yī gè yuè jiù xuéhuì le kāichē.
Anh ấy chỉ một tháng đã học xong lái xe.
Học rất nhanh.